Suy nghĩ bằng ngoại ngữ giúp đưa ra quyết định lý trí hơn

Hàng loạt thí nghiệm trên 300 người Mỹ và Hàn Quốc cho thấy suy nghĩ bằng ngôn ngữ thứ hai giảm thiểu những thành kiến sai lầm ăn sâu vốn tác động đến sự nhận thức về rủi ro và lợi ích.

“Liệu bạn có đưa ra quyết định giống nhau khi suy nghĩ bằng ngoại ngữ và suy nghĩ bằng tiếng mẹ đẻ hay không? – nhóm nghiên cứu của nhà tâm lý học Boaz Keysar tại Đại học Chicago đặt ra vấn đề trong bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Psychological Science.

Theo trực giác, chúng ta nghĩ mình sẽ đưa ra lựa chon giống nhau bất kể ngôn ngữ được sử dụng hoặc nghĩ những khó khăn khi sử dụng ngoại ngữ làm cho quyết định ít có tính chặt chẽ. Tuy nhiên,nhóm nghiên cứu tìm ra điều ngược lại: sử dụng ngoại ngữ làm giảm thành kiến.

Theo các nhà tâm lý học, cách lập luận của con người được định hướng bằng hai hướng riêng biệt: một hướng mang tính hệ thống, phân tích, dựa vào kinh nghiệm và hiểu biết, và một hướng diễn ra nhanh, vô thức, và bị ảnh hưởng nhiều bởi cảm tính.

Suy nghĩ bằng ngoại ngữ không mang tính hệ thống có thể dẫn đến khả năng con người không thể dùng lý trí xử lý thông tin, từ đó dẫn lối suy nghĩ nhanh (quick-and-dirty). Đây là quá trình nhận thức ban đầu nhằm xử lý nhanh thông tin một cách đơn giản trước khi phải tiến đến những quá trình phân tích, liên kết thông tin phức tạp hơn.

Một khả năng khác từ việc suy nghĩ bằng ngoại ngữ (một loại kỹ năng được rèn luyện, dùng nhiều lý trí) là việc dẫn đến sự thận trọng và làm giảm suy nghĩ từ bản năng không đáng tin cậy. Các nghiên cứu trước cho thấy hiện tượng phản ứng tức thời với những từ ngữ diễn tả nhiều cảm xúc không xảy ra nếu đó là những từ ngữ nước ngoài.

Để kiểm chứng hai khả năng trên, nhóm nghiên cứu đã triển khai một vài thí nghiệm dựa trên tình huống được đưa ra bởi nhà tâm lý học Daniel Kahneman, người đoạt giải Nobel Kinh Tế năm 2002 cho nghiên cứu về “Thuyết triển vọng” (Prospect theory): miêu tả cách con người tiếp nhận rủi ro bằng trực giác.

Trong nghiên cứu nổi tiếng của Kahneman,khi đối mặt với hai sự lựa chọn: 1) cứu 200 trong 600 người, 2) chấp nhận rủi ro để cứu tất cả 600 người,hoặc không cứu được ai cả, người tham gia thường đưa ra sự lựa chọn cứu 200 người. Tuy nhiên, với cùng tình huống, nếu từ ngữ được sử dụng là “mất tính mạng” (losing lives), người tham gia sẽ lựa chọn “được ăn cả ngã về không”: cứu 600 hoặc không cứu ai, hơn là chấp nhận chắc chắn mất đi 400 mạng người (chỉ chắc chắn cứu 200 người).

Nói ngắn gọn, khi cân nhắc lợi ích và rủi ro, con người có bản năng né tránh rủi ro khi phải đối diện với nguy cơ tổn thất, thậm chí khi bản chất của quyết định là như nhau. Đây là khuynh hướng thiên bẩm của con người.

Dựa vào Thuyết triển vọng, nhóm nghiên cứu cho rằng khuynh hướng tránh rủi ro sẽ tăng nếu việc dùng ngoại ngữ khiến con người suy nghĩ ít chặt chẽ hơn. Ngược lại, khuynh hướng tránh rủi ro sẽ giảm nếu việc dùng ngoại ngữ làm tăng sự thận trọng.

Cuộc thí nghiêm đầu tiên triển khai với 121 sinh viên Mỹ học tiếng Nhật (ngôn ngữ thứ hai). Một vài sinh viên trình bày bằng tiếng Anh sự lựa chọn của họ trong một tình huống giả định: Để chiến đấu với căn bệnh có thể giết chết 600,000 người, bác sĩ có thể phát triển một loại thuốc cứu 200,000 người hoặc một loại thuốc khác với 33.3% cơ hội cứu 600000 người và 66.6% không cứu được ai.

Gần 80% sinh viên lựa chọn giải pháp an toàn (cứu 200000 người). Khi tình huống được diễn giải là “tổn thất” thay vì “cứu”, số người lựa chọn giải pháp an toàn giảm còn 47%. Trong khi đó, nếu xem xét cùng tình huống bằng tiếng Nhật, khoảng 40% sinh viên lựa chọn giải pháp an toàn bất kể “cứu” hay “tổn thất sinh mạng” được sử dụng. Vai trò phán đoán bằng bản năng đã giảm đi.

Hai thí nghiệm tiếp theo đặt ra tình huống giả định liên quan tới sự mất việc được thực hiện trên 144 người bản địa Hàn Quốc từ trường đại học quốc gia Chung Nam (HQ) và 103 người nói tiếng Anh du học ở Pháp. Kết quả cho thấy sự thận trọng tăng cao. “Dùng ngoại ngữ sẽ làm giảm hiện tượng phản ứng khác nhau khi tình huống được diễn giải như một rủi ro hay một lợi ích – framing effect”.

Kết quả của hai thí nghiệm về tác động của ngoại ngữ lên việc hình thành ý kiến chú quan: Trong mỗi thí nghiệm, người tham gia được lựa chon giữa việc chắc chắn cứu được một phần số lượng người hoặc sự đánh cuộc “ăn cả ngã về không”. Những cột trên biểu đổ thể hiện số người và lựa chọn của họ khi sử dụng thuật ngữ ‘lợi ích’ (màu đen) hoặc ‘tổn thất’ (màu xám). Hai cột trái được thực hiện bằng tiếng mẹ đẻ với người tham gia, hai cột phải được thực hiện bằng ngoại ngữ.


Các nhà nghiên cứu tiếp tục thử nghiệm cách ngôn ngữ có thể ảnh hưởng tới quyết định cá nhân. Theo “Thuyết triển vọng”, khả năng tổn thất nhỏ có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn sự hứa hẹn về lợi ích lớn. Đây là hiện tượng “tránh rủi ro gần” (myopic risk aversion) bắt nguồn từ những phản ứng cảm tính về sự tổn thất.

Nhóm sinh viên Hàn Quốc được xem xét chuỗi những giả thuyết về tổn thất thấp hoặc lợi ích cao. Nếu sự lựa chọn được thực hiện bằng tiếng Hàn, chỉ có 57% tham gia. Nếu bằng tiếng Anh, con số tăng lên 67%. Kết quả này thể hiện sự cân nhắc được tăng cao với ngôn ngữ thứ hai.

Để tìm hiểu liệu hiệu ứng này có xảy ra trong những cuộc cá cược thực tế, nhóm nghiên cứu tuyển 54 sinh viên sử dụng tiếng Tây Ban Nha như ngôn ngữ thứ hai tại Đại học Chicago. Mỗi sinh viên được nhận 15 tờ 1USD, mỗi tờ có thể được giữ lại hoặc cá cược bằng trò đồng xu xấp ngửa. Trong mỗi lần chơi, sinh viên mất 1USD nếu thua và được trả lại tờ 1USD cộng thêm 1,5USD nếu thắng. Điều này có nghĩa sinh viên có khả năng sinh lời qua nhiều lần đánh cược.

Khi thí nghiệm được thực hiện bằng tiếng Anh, chỉ 54% sinh viên tham gia cá cược. Con số này tăng lên 71% khi thực hiện bằng tiếng Tây Ban Nha. “Họ cá cược nhiều hơn khi thực hiện bằng ngoại ngữ vì hy vọng có tiền lãi trong thời gian dài. Đồng thời, họ ít bị ảnh hưởng bởi hiện tượng né tránh tổn thất”, nhóm nghiên cứu nhận đinh.

Những nhà nghiên cứu tin rằng ngôn ngữ thứ hai giữ chúng ta khỏi quá trình nhận thức tự động, tăng tính suy nghĩ phân tích và giảm những phản ứng cảm tính.

“Trong hoàn cảnh ngày càng nhiều nhiều người sử dụng ngoại ngữ, phát hiện của chúng tôi mang tính ứng dụng sâu xa”, nhóm nghiên cứu gợi ý rằng những người sử dụng ngôn ngữ thứ hai nên dùng ngoại ngữ này khi cân nhắc những quyết định tài chính. “Về lâu dài,điều này sẽ rất có lợi.”

Tam N dịch từ Wired

This entry was posted in Cognitive | Nhận thức and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s