Ghét bỏ dân đồng tính? Có lẽ bạn là người đồng tính!

*Bài dịch nhân ngày Tổng tống Hoa Kì – Barack Obama lên tiếng ủng hộ hôn nhân đồng tính, 9/5/2012

Vì sao nhiều lãnh đạo chính trị và tôn giáo – những người tổ chức vận động cấm đồng tính, thường dính líu đến những quan hệ tình dục đồng tính?

Ted Haggard, một nhà lãnh đạo Tin lành, người truyền bá đồng tính là tội lỗi, đã rút lui sau rắc rối liên quan đến một mại dâm nam. Larry Craig, một thượng nghị sĩ chống nghị quyết cấm đối xử bất bình đẳng với người đồng tính, đã bị bắt vì hành vi tình dục không đứng đắn trong nhà vệ sinh nam. Glenn Murphy Jr., một lãnh đạo của Hội nghị người Cộng hòa trẻ (Young Republication National Convention), người chống đối hôn nhân đồng tính, đã nhận tội khi bị kết án hành hung tình dục một người đàn ông (sexually assault).

Một học thuyết cho rằng sự kiềm chế bản năng tình dục đồng giới có thể được thể hiện bằng nỗi sợ hãi hay chống đối quan hệ đồng tính. Sigmund Freud gọi hiện tượng này là “sự hình thành phản ứng” (reaction formation), Đây là sự chống lại những cảm giác muốn được thể hiện ra ngoài bằng cách bóp nén các cảm xúc này. Ngay cả Ted Haggard, khi đưa ra lời xin lỗi sau vụ rắc rối đồng tính của mình, dường như cũng thể hiện điều này: “Tôi nghĩ tôi đã một phần trở nên thái quá vì chính trận chiến của mình (I think I was partially so vehement because of my own war)”.

Học thuyết đầy thu hút này giờ đây đã có bằng chứng khoa học. Trong số tháng này của Tạp chí Tính cách và Khoa học Xã hội (Journal of Personality and Social Psychology), tôi và các đồng nghiệp chứng minh sự sợ hãi đồng tính một phần xuất phát từ những kiềm chế dục vọng đồng tính. Bài viết miêu tả sáu nghiên cứu được thực hiện tại Hoa Kì và Đức trên 784 sinh viên. Những người tham gia đánh giá định hướng giới tính (sexual orientation) trên thang điểm 1-10 bao gồm “gay” (đồng tính) đến “straight” (người chỉ quan hệ với người khác giới – dị tính luyến ái). Sau đó, họ tham gia một bài kiểm tra trên máy vi tính về định hướng giới tính ngầm (implicit sexual orientation). Trong bài kiểm tra này, người tham gia được xem những hình ảnh và từ ngữ gợi ý về sự khác giới và đồng giới (ví dụ: hình ảnh của cặp đôi đồng giới, cặp đôi khác giới, từ ngữ như “đồng tính” và “gay”). Các sinh viên được yêu cầu sắp xếp các từ ngữ và hình ảnh này vào nhóm thích hợp: đồng tính hay dị tính. Máy vi tính sẽ ghi lại thời gian các sinh viên thực hiện việc sắp xếp này.

Điều đặc biệt ở nghiên cứu này là ở điểm, khi mỗi từ và hình ảnh hiện ra, từ “tôi” và “họ” được nháy trên màn hình 35 giây trước đó. Khoảng thời gian này đủ lâu để người tham gia xử lí thông tin trong não nhưng cũng đủ nhanh để họ không nhận thức được mình đã thấy những từ đó. Đây là “sự liên kết ngôn ngữ” (semantic association). Giả thuyết này cho rằng khi từ “tôi” nháy trước những từ hoặc hình ảnh phản ánh hướng giới tính, một người sẽ phân loại những hình ảnh này vào nhóm thích hợp nhanh hơn là những từ không phản ánh đúng về họ (ví dụ, một người đồng tính sẽ nhanh chóng phân loại hình ảnh về “đồng giới” vào nhóm “đồng tính” nhanh hơn là phân loại hình ảnh về “khác giới” và nhóm “dị tính”). Phương pháp này tương tự với những phương pháp từng được sử dụng để phản ánh thái độ ngầm về chủng tộc. Đồng thời, nó có thể phân biệt một cách đáng chính xác những người tự cho mình là straight và những người tự cho mình là đồng tính nữ (lesbian), đồng tính nam (gay) hoặc lưỡng tính (bisexual).

Trong nghiên cứu này, hơn 20% thể hiện họ cảm nhận được sự hấp dẫn từ người đồng giới cho dù nhóm này tự nhận bản thân là straight. Họ liên kết “tôi” với những từ và hình ảnh liên quan đến đồng giới nhanh hơn là liên quan đến “khác giới”. Một điểm đáng chú ý là những đối tượng này có xu hướng ủng hộ các chính sách chống đồng tính hơn những người tham gia khác. Họ sẵn lòng đưa ra những hình phạt nặng hơn cho những phạm nhân đồng tính và thể hiện sự ghét bỏ ngầm những đối tượng đồng tính.

Nghiên cứu này cho thấy những người chống lại đồng tính có thể bị hấp dẫn bởi người đồng tính. Điều gì đã dẫn tới sự kiềm nén này? Những người tham gia có phụ huynh cảm thông thường nhận thức định hướng giới tính của mình rõ ràng và không thể hiện sự kỳ thị đồng tính. Trong khi đó, những người tham gia thuộc nhóm 20% thể hiện mình bị lôi cuốn từ người đồng giới trong khi cho rằng mình là straight, thường được nuôi dạy bởi các phụ huynh hay điều khiển và có thành kiến với người đồng tính.

Cũng cần nhấn mạnh: Không phải ai vận động chống đồng tính cũng là những người ngầm cảm nhận được sự thu hút từ những người đồng giới. Tuy nhiên, it nhất một bộ phận những người chống đồng tính có khả năng là những đối tượng đang đấu tranh với bản thân, và chính họ đang trở thành nạn nhân của sự đè nén và thiếu hụt khả năng chấp nhận. Cái giá phải trả rất đắt đối, không chỉ đối với những người chống đồng tính mà còn với những người đồng tính. Chúng ta cần nhớ rằng tất cả mọi người đều đáng nhận được sự cảm thông.

Nguồn: The New York Times 

This entry was posted in Social | Tâm lý Xã hội and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s