10 nghiên cứu tâm lý ấn tượng trong năm 2011 – Phần 2

Tiếp theo: 10 Nghiên cứu gây ấn tượng trong năm 2011 (P1)



6. Đừng bao giờ đánh giá thấp sức mạnh của phép ẩn dụ.

Chúng ta ít khi nhận ra nghệ thuật ẩn dụ có sức ảnh hưởng đến lối suy nghĩ khi đọc và nghe từ nhiều nguồn khác nhau. Các nhà nghiên cứu từ đại học Stanford qua một loạt 5 cuộc thí nghiệm đã chứng minh sức mạnh của phép ẩn dụ. Họ cho 482 sinh viên đọc hai bản báo cáo tội phạm ở thành phố Addison và yêu cầu các sinh viên đưa ra cách giải quyết vấn đề.
Báo cáo thứ nhất miêu tả tội phạm như “một con quái vật hoang dã đang săn mồi trong thành phố và ẩn núp trong khu vực sinh sống của người dân.” Sau khi đọc, 75% sinh viên đưa ra những giải pháp bao gồm hình phạt và thắt chặt luật lệ, ví dụ như xây nhiều nhà tù hoặc kêu gọi sự giúp đỡ từ quân đội. Chỉ có 25% đưa ra giải pháp cải cách xã hội như cải thiện giáo dục hay y tế cộng đồng. Báo cáo thứ hai thật ra cũng giống hệt báo cáo thứ nhất, ngoại trừ việc miêu tả tội phạm như “những con virus đang đầu độc thành phố và gây bệnh cho cộng đồng.” 56% học sinh đưa ra giải pháp thắt chặt luật lệ, còn 44% ủng hộ cải cách xã hội.

Một điều thú vị là rất ít người tham gia nhận ra tầm ảnh hưởng của ẩn dụ. Khi được hỏi phần nào trong báo cáo ảnh hưởng đến quyết định, các sinh viên đều chỉ vào số liệu tội phạm, không phải là cách miêu tả tội phạm. Chỉ có 3% xác định được phép ẩn dụ chính là nguyên nhân tạo ra các quyết định khác nhau.

7. Hãy loại bỏ người thứ ba có tính cách tự yêu bản thân trong nhóm

Nhiều năm qua, các nhà tâm lí học đã nghiên cứu mối liên hệ giữa sự tự yêu bản thân (narcissism) và khả năng sáng tạo. Vài nghiên cứu đã cho thấy những người quá yêu bản thân có thể sáng tạo hơn những người khác. Nhưng một nghiên cứu của đại học Cornell đã đưa ra kết luận ngược lại.

240 sinh viên đã làm một bài kiểm tra mức độ yêu bản thân với những câu hỏi như “Tôi thích làm trung tâm của sự chú ý.” Những người tham gia sau đó được chia ra thành các cặp và mỗi người trong cặp sẽ tự nghĩ ra ý tưởng về một bộ phim cho người kia nghe. Khi biết người bạn trong cặp của mình có mức độ yêu bản thân cao, người tham gia cho rằng ý tưởng của người bạn rất sáng tạo. Ngược lại, nếu người bạn trong cặp không được thông báo về mức độ yêu bản thân của người còn lại, ý tưởng về bộ phim không được đánh giá ấn tượng hơn bao nhiêu.

Nhà nghiên cứu sau đó chia 292 sinh viên thành 73 nhóm bốn người. Mỗi nhóm được giao nhiệm vụ nghĩ ra những phương pháp sáng tạo để giúp một công ty cải thiện thành tích làm việc. Thí nghiệm cho thấy nhóm có hai người tự yêu bản thân đưa ra nhiều kết quả sáng tạo hơn là nhóm không có người nào vì sự cạnh tranh giữa hai người này thúc đẩy quá trình sáng tạo ý kiến mới của nhóm. Tuy nhiên, khi có nhiều hơn hai người tự yêu bản thân trong cùng một nhóm thì điều ngược lại xảy ra: sự cạnh tranh quá mức đã làm giảm đi hiệu quả làm việc của nhóm.

8. Những đứa trẻ vui vẻ trở thành những người lớn vui vẻ?

Ít nghiên cứu nhận được nhiều sự chú ý như nghiên cứu về mối liên hệ giữa trải nghiệm tuổi thơ và sự vui vẻ khi trưởng thành. Các nhà nghiên cứu ở đại học Cambridge đã xem xét những năm tháng đầu đời và vị thành niên của 2776 người tham gia đã trưởng thành. Những người tham gia được đánh giá tình trạng tinh thần và tính cách thời thơ ấu của họ dựa vào những bản báo cáo từ trường học, bản kiểm tra tính cách và nhiều nguồn khác. Sau đó, những người này được đánh giá dựa trêb mức độ học vấn, tình trạng hôn nhân, thu nhập, nghề nghiệp, sức khoẻ tinh thần, hoạt động xã hội và lãnh đạo.

So với những người đã từng là một đứa trẻ không thuộc vào phân loại tích cực, những người tham gia được một phân loại tích cực, ví dụ như từng nhận một bản báo cáo tốt từ giáo viên, có ít hơn 21% nguy cơ gặp phải các vấn đề tình cảm. Trong khi đó, những người thuộc về hai hay nhiều nhóm có ít hơn đến 61% các nguy cơ này.

Đáng ngạc nhiên là những đứa trẻ vui vẻ lại không có nhiều khả năng lập gia đình. Ngược lại, những người lớn từ những đứa trẻ vui vẻ còn có xu hướng li hôn cao hơn!

9. Lựa chọn điều tốt nhất

Nhiều nghiên cứu cho rằng việc “mất khả năng lựa chọn” thường là kết quả của việc có quá nhiều lựa chọn. Tuy nhiên, nghiên cứu của Sheena Iyengar từ London Business School cho thấy rằng thay vì là một yếu điểm, có nhiều lựa chọn thật ra giúp tăng khả năng tập trung của chúng ta vào chất lượng của những lựa chọn đó.

Người tham gia đối mặt với 20 loại rượu và sô cô la khác nhau. Những người tham gia không chỉ chọn những loại cao cấp mà còn sẵn sàng trả nhiều tiền hơn. Những nhà nghiên cứu cũng phân tích 63 cuộc đấu giá rượu từ năm 2006 đến năm 2009 tại Luân Đôn và tìm thấy cùng một kết quả: Tại những cuộc đấu giá có nhiều loại rượu khác nhau, người ta sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho những loại rượu có mức đánh giá cao hơn là những loại thuộc hạng “thấp hơn.”

10. Vì sao sự giận dữ có thể chữa thành kiến? 

Chúng ta thường có xu hướng tìm kiếm thông tin củng cố ý kiến của bản thân (confirmation bias). Không ai ngờ thuốc giải cho căn bệnh này lại chính là sự giận dữ.

Các nhà nghiên cứu đã cho 97 học sinh tham gia hai cuộc thí nghiệm tưởng chừng như rất khác biệt. Cuộc thí nghiệm thứ nhất bao gồm việc nhớ lại và viết về khoảng thời gian mà người tham gia cực kì tức giận hoặc rất buồn. Sau đó, những người tham gia được đọc đoạn mở đầu về một cuộc tranh luận xem việc sử dụng những dụng cụ không tay cầm có giúp cho việc nói chuyện trên điện thoại khi đang lái xe an toàn hơn hay không. Lưu ý rằng những người tham gia này được lựa chọn vì bài kiểm tra trước đó cho biết họ cho rằng sử dụng các công cụ này sẽ làm cho việc lái xe trở nên an toàn hơn. Cuối cùng, người tham gia đọc tóm tắt tám bài báo ủng hộ hoặc không ủng hộ việc sử dụng các công cụ trên. những dụng cụ trên. Những người tham gia có quyền lựa chọn năm trong số tám bài báo này để đọc toàn bộ.

Kết quả là những người tham gia viết về những kỷ niệm tức giận đã chọn những bài báo chống lại những công cụ trên – điều này trái ngược với ý kiến của họ ban đầu. Khi kết thúc cuộc thí nghiệm, những người này một lần nữa, thể hiện sự thay đổi ý kiến ban đầu của họ.

Đọc thêm: 10 Nghiên cứu gây ấn tượng trong năm 2011 (P1)

Nguồn: Psychology Today

Ngoc T dịch

This entry was posted in Uncategorized and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s